Viêm lợi trùm


Tính chất 

Phản ứng viêm khi răng 8 mọc thường xảy ra ở  bệnh nhân tuổi từ 17 đến 25. Có thể cấp hay bán cấp, nhưng thường là mạn tính (Lee và Kim).
Kích thước lỗ thông vào khoangg miệng của bao mầm răng có thể rất nhỏ, tuy nhiên thường múi xa răng lộ hoàn toàn trên niêm mạc miệng.

Trong giai đoạn xung huyết, vi khuẩn thường trú trong miệng sẽ xâm nhập vào toàn bộ bao mầm, nếu răng không mọc được, khối lượng vi khuẩn ngày càng tăng và gây nhiễm trùng mà không thể làm sạch. Khi vi trùng kỵ khí phát triển, sự hiện diện của bacteroides  forsythus và Porphyromonas gingivalis cho thấy viêm nướu nặng đang tiến triển (Blakey et al).

Khoảng quanh răng và bao mầm thường lớn hơn mặt xa răng 8. Viêm bao quanh răng gây tiêu xương theo hình lưỡi liềm đặc trưng (hình 2-12b). Trục răng phần lớn là chiều đứng (Punwutikorn et al). R8 chạm hay vượt lên  khỏi mặt phẳng cắn xảy ra 80% trường hợp. (Halverson & Anderson).

Lâm sàng
 
Bệnh nhân đau nhiều, cấp tính, tự phát ở vùng sau răng cối, lan lên trên ra ngoài đến tai. Nhai cũng đau, vì mô mềm bao phủ một phần thân răng bị tổn thương bởi răng đối diện. Trong một số trường hợp, cảm giác này có thể kèm khó nuốt, khít hàm nhẹ. Bệnh nhân sốt,  nề nhẹ, sờ đau vùng tam giác hậu hàm, hạch tại chỗ.

Viêm nướu có thể thấy khi khám trong miệng. Mô sau răng cối sung huyết nặng. Mô mềm bao phủ quanh răng 8 sưng đỏ, in dấu ấn của răng đối diện xuống. Viêm đỏ này thỉnh thoảng lan đến trụ trước amidan, hay xuống ngách hành lang tương ứng. Ấn đau vùng mô  mềm tại vị trí răng 8, có thể thoát mủ ra ngoài. Khám trong miệng cần thám sát hai bên sàn miệng để chẩn đoán viêm sơ sau viêm do răng8. 

Dùng kháng sinh, kháng viêm tại chỗ có thể cải thiện những triệu chứng lâm sàng; tuy nhiên, khoảng thời gian hết viêm ngắn. Khi răng không được lấy ra, viêm nhiễm tái phát là  quy luật, và viêm lợi trùm trở thành mạn tính. Trong giai đoạn này, chụp X-ray là phương tiện cần thiết giúp quyết định có phẫu thuật hay không. 

Biến chứng

Viêm nướu hoại tử lở loét, là trình trạng viêm cấp, hủy hoại mô nha chu nhiều, do vi trùng trong mảng bám gây ra (Lindhe). Khi vệ sinh răng miệng kém, bệnh nhân căng thẳng, hút thuốc lá nhiều, trình trạng viêm nướu hoại tử lở loét tăng, đau nhiều vùng tam giác hậu hàm, thỉnh thoảng lan đến R3 đối bên. Vết loét màu nâu, chia gai nướu thành phần má và phần lưỡi, ở giữa hoại tử như miệng núi lửa sâu xuống, mô mềm trở nên dễ chảy máu.

Mảng bám và mảnh vụn thức ăn luôn hiện diện dưới khe nướu. Vi khuẩn thừơng gặp trong viêm nướu hoại tử lở loét là Fusiform bacilli và spirilla, sprochetes và những
chủng vi khuẩn khác. Khi đó, vùng tam giác hậu hàm  biểu hiện viêm lợi trùm nặng, rất đau. 

Trước khi quyết định phẫu thuật, Bác sĩ phải chắc chắn các triệu chứng hiện tại cải thiện, chẩn đoán chính xác, loại trừ các bệnh huyết học, hội chứng suy giảm miễn dịch (Charon et al). Khi có nghi ngờ  bệnh lý nội khoa, làm ngay các xét nghiệm máu và huyết thanh. Điều trị viêm nướu hoại tử lở loét bao gồm:
• Kháng sinh.
• Vệ sinh răng miệng bằng thuốc có chất diệt khuẩn. (2% chlorhexindine).
• Hướng dẫn và động viên bệnh nhân vệ sinh răng miệng.
• Nạo và lấy sạch các chất bẩn bằng dụng cụ siêu âm.

Nhiễm trùng lan tỏa

Viêm lợi trùm cấp tính có thể là dấu hiệu bắt đầu viêm nhiễm lan rộng. Lâm sàng thay đổi tùy tình trạng răng 8 đã hiện diện trên cung hàm hay còn ngầm. Cấu trúc và vị trí cơ xung quanh- cơ bám vào màng xương tương ứng- đóng một vai trò quan trọng về hướng lan truyền vi khuẩn và dịch mủ. Những cấu trúc giải phẫu khác cũng quan trọng như: xoang, tuyến nước bọt, mắt và hộp sọ (Alling et al).
 
Viêm kèm khít hàm tạm thời là một trong những dấu hiệu cho thấy có rối loạn mọc răng 8, và một trong 3 cơ của xương hàm dưới- cơ thái dương, cắn, chân bướm trong- đã bị ảnh hưởng. Cơ có xu hướng co cứng khi xảy ra viêm lợi trùm mưng mủ, và khi có khít hàm nhiều thì bệnh nhân dùng kháng sinh trước mổ là bắt buộc.
 

Implant